CHÍNH SÁCH ABENOMICS Ở NHẬT BẢN

 

Những thành tựu của nền kinh tế Nhật Bản sau 5 năm thực hiện Chính sách Abenomics

 

Thông qua các nghiên cứu, đánh giá của Nhật Bản, có thể nhận thực trạng và một số điểm hạn chế của nền kinh tế nước này giai đoạn từ 1990 đến 2012 trước khi có chiến lược Abenomics như sau:

  • Về chi tiêu: Tăng trưởng gần bằng 0% trong 20 năm; Chi tiêu tiêu dùng bị đình trệ do giảm phát; Hậu quả từ vụ động đất xảy ra hồi 2011 và những hệ quả còn kéo dài đến năm 2012; Khoản nợ công lớn do lạm phát trong chi tiêu từ những năm 1990.
  • Về tiền tệ: Giảm phát dài hạn; Đồng Yên quá mạnh, ảnh hưởng tới xuất khẩu.
  • Về việc làm: Tình trạng giảm lực lượng lao động trong dài hạn do tình trạng dân số Nhật Bản; Một số ngành có lao động giảm mạnh (như xây dựng); Tỷ lệ lao động nữ giới thấp; Một lượng lớn dân số (1/3 dân số) làm các công việc không chính thức với thu nhập và lợi ích thấp hơn.

Các “mũi tên” trong chính sách Abenomics:

Abenomics là sự kết hợp của các biện pháp kinh tế khác nhau như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và chiến lược tăng trưởng. Với cách nói ẩn dụ về “ba mũi tên”, Abenomics truyền tải một thông điệp cụ thể rằng, hiệu ứng từ sự kết hợp các chính sách kể trên sẽ giúp nền kinh tế lớn thứ ba thế giới là Nhật Bản hồi sinh sau một thời gian dài “chìm” trong suy thoái.

  • Mũi tên 1: Xác định nguyên nhân lớn nhất của suy thoái kinh tế là giảm phát nên điều mà Chính phủ của Thủ tướng Abe nhắm tới trước tiên với mũi tên thứ nhất là xóa bỏ giảm phát. Đề ra một mục tiêu lạm phát là giải pháp mà Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đưa ra. Một lượng lớn tiền được tung ra kể từ đầu mùa xuân 2013 (với mức cung tiền cơ bản đang từ 130 nghìn tỷ Yên tăng lên 270 nghìn tỷ yên) nhằm thay đổi kỳ vọng của thị trường và ổn định mục tiêu lạm phát là 2%. Tương tự như nhiều nền kinh tế phát triển khác, lạm phát 2% mỗi năm tại Nhật Bản được coi là tối ưu để khuyến khích các công ty đầu tư và người tiêu dùng chi tiêu. Mức lạm phát này cũng đủ thấp để tránh làm dấy lên cuộc khủng hoảng siêu lạm phát từng làm tê liệt nền Cộng hòa Weimar (nước Đức) những năm 1920 và Zimbabwe gần đây. Bên cạnh đó, việc nới lỏng định lượng không giới hạn, điều chỉnh giá đồng Yên, sửa đổi Luật Ngân hàng cũng đã được Nhật Bản xúc tiến.
  • Mũi tên 2: Nhằm kích thích nền kinh tế, Abenomics đã nhanh chóng đẩy mạnh đầu tư công, tăng cường chi tiêu. Cùng với việc triển khai các gói kích thích kinh tế, tập trung cho phúc lợi xã hội là việc củng cố tài khóa, giải quyết nợ công. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản cũng tìm cách nâng cao nguồn thu bằng cách tăng thuế tiêu thụ từ 5-8% và giai đoạn sau này (năm 2019) sẽ là 10%.
  • Mũi tên thứ 3: Thực chất đây là chính sách tái cấu trúc nền kinh tế. Mũi tên thứ ba của Abenomics được kỳ vọng sẽ tạo đòn bẩy kích thích khu vực tư nhân trong các vấn đề chuyển dịch công nghiệp, tăng cường nhân lực và cải cách hệ thống việc làm, tăng năng lực cạnh tranh về vị trí thay vì chuyển hoạt động ra nước ngoài, năng lượng sạch và hiệu quả, xây dựng xã hội tuổi thọ cao đi đôi với sức khỏe, mở rộng xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp, khoa học và công nghệ. Ngoài ra, chìa khóa quan trọng của mũi tên thứ ba này chính là việc tham gia Hiệp định TPP và các hiệp định thương mại tự do khác của Nhật Bản.Đặc biệt, trong giai đoạn 2 thực hiện, từ tháng 10/2015, 3 mũi tên trong chiến lược Abenomics tập trung cụ thể hơn vào mục tiêu kinh tế tăng trưởng mạnh (GDP đạt mức 600 ngàn tỷ Yên), tăng cường hỗ trợ sinh và nuôi dạy trẻ nhỏ trong bối cảnh nhân khẩu học bất lợi đối với phát triển (nhằm duy trì được mức dân số 100 triệu trong vòng 50 năm tới), cải thiện an sinh xã hội (nhằm giảm gánh nặng dân số già hóa lên hệ thống phúc lợi xã hội).

“Ngay sau khi đắc cử lần thứ hai thủ tướng Shinzo Abe đã đưa ra chính sách kinh tế Abenomics”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *